top of page

Phần 5: Kinh Mân Côi với thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II - Các Mầu Nhiệm Sáng

  • Ảnh của tác giả: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
    Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
  • 6 thg 11
  • 21 phút đọc

Scott L. Smith (biên tập)


Trích từ Tông thư Rosarium Virginis Mariae của Thánh Gio-an Phao-lô II

Nối tiếp thời thơ ấu và cuộc sống ẩn dật ở Na-da-rét, bước sang cuộc sống công khai của Chúa Giê-su, sự chiêm niệm đưa chúng ta đến những mầu nhiệm có thể được gọi cách đặc biệt là “các mầu nhiệm Sáng”. Chắc chắn toàn bộ mầu nhiệm Chúa Ki-tô là một mầu nhiệm Sáng. Người là “ánh sáng thế gian”.[1] Tuy nhiên, chân lý này biểu lộ theo một cách đặc biệt trong những năm đời sống công khai của Người, khi Người rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Nhằm đề nghị với cộng đoàn Ki-tô hữu năm khoảnh khắc quan trọng là những mầu nhiệm “sáng ngời” trong giai đoạn này của cuộc đời Chúa Ki-tô, tôi nghĩ rằng những điều sau đây có thể được nêu ra một cách phù hợp : (1) Phép Rửa của Người tại sông Gio-đan, (2) Sự tự biểu lộ của Người tại tiệc cưới Ca-na, (3) Lời rao giảng Nước Thiên Chúa, cùng với lời kêu gọi hoán cải, (4) Sự kiện Hiển Dung của Người, và cuối cùng là (5) việc Người thiết lập bí tích Thánh Thể, như diễn tả có tính bí tích của mầu nhiệm Vượt Qua.

Mỗi mầu nhiệm này là một sự mặc khải về Nước Trời hiện diện nơi chính con người của Chúa Giê-su. Phép Rửa ở sông Gio-đan tiên vàn là một mầu nhiệm Sáng. Ở đây, khi Chúa Ki-tô xuống nước, Đấng vô tội đã trở nên “tội lỗi” vì chúng ta[2] các tầng trời mở ra và tiếng Chúa Cha tuyên bố Người là Con yêu dấu,[3] trong khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người để trao sứ mạng mà Người phải thi hành. Một mầu nhiệm Sáng khác là dấu chỉ đầu tiên, được thực hiện tại Ca-na,[4] khi Chúa Ki-tô biến nước thành rượu và mở lòng các môn đệ đón nhận đức tin, nhờ sự can thiệp của Đức Ma-ri-a, người đầu tiên trong số các tín hữu. Một mầu nhiệm Sáng khác là việc rao giảng trong đó Chúa Giê-su công bố Nước Thiên Chúa đang đến, kêu gọi hoán cải[5] và công bố sự tha thứ tội lỗi cho tất cả những ai đến với Người trong khiêm nhường và tin tưởng[6] : đây là sự khai mạc sứ vụ thương xót mà Người tiếp tục thực hiện cho đến tận thế, đặc biệt qua bí tích Hoà Giải mà Người trao phó cho Giáo Hội của Người.[7] Mầu nhiệm Sáng tuyệt đỉnh là Hiển Dung, theo truyền thống được cho là đã diễn ra trên núi Ta-bo. Vinh quang thần linh toả sáng trên khuôn mặt của Chúa Ki-tô khi Chúa Cha truyền cho các Tông Đồ đang kinh ngạc rằng “hãy lắng nghe Người”[8], và chuẩn bị trải nghiệm cùng Người nỗi thống khổ của cuộc Thương Khó, để cùng Người đến với niềm vui Phục Sinh và một đời sống được biến đổi bởi Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm Sáng cuối cùng là việc thiết lập bí tích Thánh Thể, trong đó Chúa Ki-tô hiến dâng thân mình và máu của Người làm lương thực dưới hình bánh và rượu, và chứng thực tình yêu “cho đến cùng” của Người dành cho nhân loại,[9] theo đó Người sẽ hiến dâng chính mình trong lễ hy sinh để cứu rỗi nhân loại.

Trong những mầu nhiệm này, ngoài phép lạ ở Ca-na, sự hiện diện của Đức Ma-ri-a nằm ở hậu trường. Các sách Tin Mừng chỉ đề cập ngắn gọn đến sự hiện diện lúc này lúc khác của Mẹ trong công cuộc rao giảng của Chúa Giê-su,[10] và Tin Mừng không đề cập đến việc Mẹ đã có mặt tại Bữa Tiệc Ly và việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, vai trò mà Mẹ đảm nhận tại Ca-na cách nào đó vẫn đồng hành cùng Chúa Ki-tô xuyên suốt sứ vụ của Người. Sự mặc khải trực tiếp bởi Chúa Cha tại Phép Rửa ở sông Gio-đan và được vọng lại bởi ông Gio-an Tẩy Giả đã được đặt trên môi của Đức Ma-ri-a tại Ca-na, và trở thành lời khuyên dạy từ mẫu mà Đức Ma-ri-a nói với Giáo Hội qua mọi thời đại : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”[11] Lời khuyên này là một giới thiệu thích hợp cho những lời nói và dấu chỉ trong sứ vụ công khai của Chúa Ki-tô, và nó hình thành nền tảng Thánh Mẫu học của tất cả các “mầu nhiệm Sáng”.


Chương 1. Chúa Giêsu chịu phép rửa

Thánh Gio-an Phao-lô II có bài giảng sau đây tại Wadi Al-Kharrar ở sông Gio-đan trong chuyến hành hương Năm Thánh của ngài đến Đất Thánh vào thứ Ba, ngày 21 tháng 3 năm 2000 :


Trong Tin Mừng Lu-ca, chúng ta đọc thấy “lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.”[12] Ở đây, tại sông Gio-đan, nơi cả hai bờ đều có những đoàn người hành hương đến thăm để tôn vinh Phép Rửa của Chúa, tôi cũng nâng hồn lên cầu nguyện :

Vinh danh Cha là Thiên Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp ! Cha đã sai các tôi tớ của Cha là các ngôn sứ đến để rao giảng lời yêu thương trung thành của Cha và kêu gọi dân Cha sám hối. Trên bờ sông Gio-đan, Cha đã đặt ông Gio-an Tẩy Giả lên, như một tiếng kêu trong hoang địa, được sai đi khắp vùng sông Gio-đan để dọn đường cho Chúa, để loan báo sự xuất hiện của Chúa Giê-su. Vinh danh Chúa Ki-tô, Con Thiên Chúa ! Chúa đã đến vùng nước sông Gio-đan để được ông Gio-an làm phép rửa. Chúa đã được Thánh Thần ngự xuống trên mình như chim bồ câu. Và phía trên, các tầng trời mở ra, với tiếng Chúa Cha phán : “Đây là Con yêu dấu của Ta !” Từ dòng sông được chúc phúc bởi sự hiện diện của Chúa, Chúa đã lên đường để làm Phép Rửa không chỉ bằng nước mà còn bằng lửa và Thánh Thần.

Vinh danh Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Đấng ban sự sống ! Nhờ quyền năng của Chúa, Hội Thánh được lãnh Phép Rửa, dìm mình trong cái chết cùng với Chúa Ki-tô, và cùng Người trỗi dậy trong sự sống mới. Nhờ quyền năng của Chúa, chúng con được giải thoát khỏi tội lỗi để trở thành con cái của Thiên Chúa, trở thành thân thể vinh quang của Chúa Ki-tô. Nhờ quyền năng của Chúa, mọi sợ hãi đều tan biến, và Tin Mừng tình yêu được rao giảng khắp nơi trên trái đất, để tôn vinh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Chúa đáng được chúc tụng trong Năm Thánh này và cho đến muôn đời. A-men.


Chương 2. Tiệc cưới Ca-na

Thánh Gio-an Phao-lô II có bài phát biểu sau vào thứ Tư, ngày 26 tháng 2 năm 1997 trong buổi Tiếp Kiến Chung của ngài :


Chúa Giê-su làm phép lạ theo yêu cầu của Đức Ma-ri-a.

Trong bối cảnh đám cưới tại Ca-na, thánh Gio-an trình bày sự can thiệp đầu tiên của Đức Ma-ri-a trong cuộc sống công khai của Chúa Giê-su và nhấn mạnh sự hợp tác của Mẹ trong sứ mạng của Con mình. Ở đầu trình thuật, thánh nhân kể cho chúng ta “trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giê-su”,[13] và như thể muốn ám chỉ rằng sự hiện diện của Mẹ là lý do khiến đôi vợ chồng mời Chúa Giê-su và các môn đệ của Người,[14] trình thuật nói thêm “Đức Giê-su và các môn đệ cũng được mời tham dự”.[15] Với những ghi nhận này, thánh Gio-an dường như chỉ ra rằng tại Ca-na, cũng giống như trong câu chuyện Nhập Thể, chính Đức Ma-ri-a là người giới thiệu Đấng Cứu Thế.

Ý nghĩa và vai trò của sự hiện diện của Đức Trinh Nữ trở nên rõ ràng khi hết rượu. Là một người nội trợ khéo léo và khôn ngoan, Đức Ma-ri-a ngay lập tức nhận ra và can thiệp để không làm hỏng niềm vui của mọi người, và trên hết là giúp đỡ đôi tân hôn đang gặp khó khăn.

Quay sang nói với Chúa Giê-su : “Họ hết rượu rồi”,[16] Đức Ma-ri-a bày tỏ với Người mối quan tâm của mình về tình huống này, mong đợi Người giải quyết nó. Chính xác hơn, theo một số nhà chú giải, Mẹ của Chúa Giê-su đang mong đợi một dấu hiệu phi thường, vì Chúa Giê-su không có sẵn rượu ở đó.

Sự lựa chọn ấy của Đức Ma-ri-a, trong khi có lẽ kiếm được rượu cần thiết ở nơi khác, cho thấy đức tin can đảm của Mẹ, vì cho đến thời điểm đó, Chúa Giê-su chưa làm phép lạ nào, cả ở Na-da-rét lẫn trong cuộc sống công khai của Người. Tại Ca-na, Đức Trinh Nữ một lần nữa cho thấy sự sẵn sàng hoàn toàn của mình với Thiên Chúa. Trong biến cố Truyền Tin, Mẹ đã góp phần vào phép lạ thụ thai đồng trinh bằng cách tin vào Chúa Giê-su trước khi nhìn thấy Người ; ở đây, lòng tin của Mẹ vào quyền năng chưa được tỏ lộ của Chúa Giê-su khiến Người thực hiện “dấu chỉ đầu tiên” của mình, là phép lạ biến nước thành rượu. Như thế, Mẹ đi trước các môn đệ trong đức tin, bởi như thánh Gio-an nói, các môn đệ sẽ tin sau phép lạ : Chúa Giê-su “đã bày tỏ vinh quang của Người ; và các môn đệ đã tin vào Người”.[17] Như vậy, Đức Ma-ri-a đã củng cố đức tin của các môn đệ bằng việc thúc đẩy dấu hiệu kỳ diệu này. Câu trả lời của Chúa Giê-su cho Đức Ma-ri-a : “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi ? Giờ của tôi chưa đến”,[18] dường như bày tỏ sự từ chối, như thể đang thử thách đức tin của Mẹ mình.

Theo một cách diễn giải, ngay từ khi bắt đầu sứ mạng, Chúa Giê-su dường như đặt câu hỏi về mối dây mẹ - con tự nhiên mà Mẹ Người nhắc đến. Câu này, theo cách nói địa phương, nhằm nhấn mạnh một khoảng cách giữa hai người, bằng cách loại trừ sự hiệp thông của cuộc sống. Khoảng cách này không làm mất sự tôn kính ; thuật ngữ “Bà” mà Người dùng để gọi Mẹ của mình được sử dụng với một sắc thái sẽ xuất hiện lại trong các cuộc trò chuyện với người phụ nữ Ca-na-an,[19] người phụ nữ Sa-ma-ri,[20] người đàn bà ngoại tình,[21] và Ma-ri-a Mác-đa-la,[22] trong các bối cảnh cho thấy mối quan hệ tích cực của Chúa Giê-su với những người nữ đang đối thoại.

Với câu nói : “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi ?”, Chúa Giê-su muốn đặt sự hợp tác của Mẹ lên mức độ cứu rỗi, bằng cách nối kết đến đức tin và hy vọng của Mẹ, đòi hỏi Mẹ phải vượt ra ngoài vai trò tự nhiên của người mẹ.

Điều quan trọng hơn nhiều, đó là lý do Chúa Giê-su đưa ra : “Giờ của tôi chưa đến.”[23] Một số học giả nghiên cứu bản văn này ủng hộ cách giải thích của thánh Augustinô, hiểu “giờ” ở đây là biến cố Thương Khó. Một số người khác thì cho rằng nó ám chỉ phép lạ đầu tiên, trong đó quyền năng Mê-si-a của vị ngôn sứ ở Na-da-rét sẽ được tiết lộ. Tuy nhiên, một số khác nữa lại cho rằng câu này là câu hỏi và là phần mở rộng của câu hỏi trước đó : “Tôi với bà có liên can gì ? Giờ của tôi chưa đến phải không ?” Chúa Giê-su cho Đức Ma-ri-a hiểu rằng từ nay Người không còn phụ thuộc vào Mẹ nữa, mà phải chủ động làm công việc của Cha Người. Rồi Đức Ma-ri-a không cố nài nỉ Chúa Giê-su nữa mà quay sang các gia nhân, bảo họ vâng lời Người.

Sau tất cả, lòng tin của Mẹ vào Con mình đã được đền đáp. Chúa Giê-su, người mà Mẹ để hoàn toàn tự do hành động, đã làm phép lạ, khi nhận ra lòng can đảm và sự đơn sơ phó thác của Mẹ Người : “Đức Giê-su bảo họ : ‘Các anh hãy đổ nước vào chum đi !’ Và họ đổ đầy tới miệng.”[24]  Như thế, sự vâng lời của họ cũng giúp họ có được rượu dồi dào.

Lời yêu cầu của Đức Ma-ri-a : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, vẫn luôn có giá trị thời sự đối với các Ki-tô hữu ở mọi thời đại, và luôn có hiệu lực làm mới lại hiệu quả kỳ diệu của nó trong cuộc sống của mọi người. Đó là một khuyến dụ hãy tin tưởng mà không do dự, nhất là khi người ta không hiểu ý nghĩa hoặc lợi ích của những gì Chúa Ki-tô yêu cầu. Giống như trong câu chuyện về người phụ nữ Ca-na-an,[25] sự từ chối rõ ràng của Chúa Giê-su làm nổi bật đức tin của người phụ nữ, vì vậy lời của Con Mẹ, “Giờ của tôi chưa đến”, cùng với việc thực hiện phép lạ đầu tiên, chứng minh đức tin lớn lao và sức mạnh lời cầu nguyện của Mẹ. Câu chuyện tiệc cưới Ca-na thúc giục chúng ta phải can đảm trong đức tin và cảm nghiệm trong cuộc sống mình chân lý của những lời Tin Mừng : “Cứ xin thì sẽ được.” [26]


Chương 3. Rao giảng Nước Trời

Bài giảng của Thánh Gio-an Phao-lô II vào lễ Chúa Ki-tô Vua, Chúa nhật, ngày 23 tháng 11 năm 1997


Chúa Giê-su chỉ ra vương quyền thật sự của Người : “Tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”[27] Người không phải là vua như những thành viên của Thượng Hội Đồng hiểu : thật vậy, Người không khao khát bất kỳ quyền lực chính trị nào ở Ít-ra-en. Ngược lại, vương quốc của Người vượt xa các biên giới Pa-lét-tin. Ai đứng về phía sự thật đều nghe tiếng Người và nhìn nhận Người là Vua.[28]

Đây là tầm vóc phổ quát của vương quốc Chúa Ki-tô và chiều kích thiêng liêng của vương quốc này. “Làm chứng cho sự thật.”[29] Bài đọc từ sách Khải huyền nói rằng Chúa Giê-su Ki-tô là “Chứng Nhân trung thành.”[30] Người là Chứng Nhân trung thành vì Người mặc khải mầu nhiệm của Thiên Chúa và công bố vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc đang có mặt. Người là người Tôi tớ đầu tiên của vương quốc này. Bằng cách trở nên “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”,[31] Người sẽ làm chứng về quyền năng của Chúa Cha đối với mọi thụ tạo và thế giới. Và nơi để thực thi vương quyền của Người là Thập Giá mà Người đảm nhận trên đồi Gôn-gô-tha. Cái chết của Người là một cái chết nhục nhã, nhưng nó cho thấy sự xác nhận lời Tin Mừng công bố về vương quốc của Thiên Chúa. Trong mắt kẻ thù của Người, cái chết đó hẳn là bằng chứng rằng mọi điều Người đã nói và làm đều sai : “Hắn là Vua của Ít-ra-en ! Hãy cứ xuống khỏi Thập Giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền !”[32] Người đã không xuống khỏi Thập Giá, nhưng như Mục Tử tốt lành, Người đã hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.[33] Tuy nhiên, sự xác nhận vương quyền của Người đã đến sau đó một chút khi vào ngày thứ ba, Người sống lại từ cõi chết, cho thấy Người là “người đầu tiên từ cõi chết trỗi dậy”.[34]

Là người Tôi Trung, Người là Vua vì nắm “chìa khoá của Tử thần và Âm phủ”.[35] Và vì Người là Đấng chiến thắng sự chết, địa ngục và Xa-tan, nên Người là “Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian”.[36] Thật vậy, mọi sự trên đời đều phải chấp nhận sự chết. Ngược lại, Đấng có quyền năng trên sự chết mở ra viễn cảnh về sự sống bất tử cho toàn thể nhân loại. Người là An-pha và O-mê-ga, là khởi đầu và là sự hoàn thành của toàn thể công trình tạo dựng,[37] để mọi thế hệ có thể lặp lại : Chúc tụng vương quốc của Người đang đến.[38]

Anh chị em thân mến, [...] sự thật về Chúa Ki-tô Vua là sự ứng nghiệm của các lời sấm trong Cựu Ước. Ngôn sứ Đa-ni-en loan báo sự xuất hiện của Con Người, Đấng đã được trao “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”. Người đến và được phụng sự bởi “các dân tộc, các quốc gia và ngôn ngữ”, và “quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một, vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong”.[39] Chúng ta biết rõ rằng tất cả những điều này đã được ứng nghiệm trọn vẹn nơi Chúa Ki-tô, trong cuộc Vượt Qua, cái Chết và Sống lại của Người.

Lễ trọng Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ mời gọi chúng ta lặp lại trong đức tin lời Kinh Lạy Cha, mà chính Chúa Giê-su đã dạy chúng ta : “Xin cho Nước Cha trị đến.” Lạy Chúa, xin cho Nước Chúa trị đến ! – “Vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc của sự thánh thiện và ân sủng, vương quốc của công lý, tình yêu và hoà bình”. A-men.


Chương 4. Chúa hiển dung

Bài giảng của Thánh Gio-an Phao-lô II vào lễ Chúa Hiển Dung và kỷ niệm 21 năm ngày mất của Thánh Giáo Hoàng Phao-lô VI vào thứ Sáu, ngày 6 tháng 8 năm 1999


Thánh lễ chúng ta đang cử hành đưa tâm trí chúng ta đến núi Ta-bo cùng với các Tông Đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, để say mê chiêm ngưỡng vẻ huy hoàng của Chúa Hiển Dung. Trong sự kiện Hiển Dung, chúng ta chiêm ngắm cuộc gặp gỡ mầu nhiệm giữa lịch sử, vốn đang được xây dựng mỗi ngày, và gia sản ân phúc đang chờ đợi chúng ta trên thiên đàng, trong sự kết hợp trọn vẹn với Chúa Ki-tô, là An-pha và O-mê-ga, nguyên thuỷ và cùng đích.

Chúng ta, những người lữ hành trên trần thế, được ban cho niềm vui trong sự đồng hành của Chúa Hiển Dung khi chúng ta đắm mình vào những điều trên trời qua lời cầu nguyện và việc cử hành các mầu nhiệm thần linh. Nhưng, giống như các Tông Đồ, chúng ta cũng phải xuống núi Ta-bo để đi vào cuộc sống hằng ngày, nơi những biến cố của con người thách thức đức tin chúng ta. Trên núi, chúng ta đã nhìn thấy ; còn trên những nẻo đường đời sống, chúng ta được yêu cầu kiên trì công bố Tin Mừng có sức soi sáng bước chân của những người tin.

Niềm xác tín tâm linh sâu sắc này đã hướng dẫn toàn bộ sứ mạng trong Giáo Hội của Vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Thánh Phao-lô VI, người đã trở về Nhà Cha đúng vào lễ Chúa Hiển Dung, cách đây 21 năm. Trong bài suy niệm ngài đã dự tính chia sẻ tại buổi đọc Kinh Truyền Tin vào ngày hôm đó, ngày 6 tháng 8 năm 1978, ngài đã nói : “Sự Hiển Dung của Chúa, được nhắc lại trong Phụng vụ long trọng hôm nay, chiếu một ánh sáng rực rỡ vào cuộc sống thường ngày của chúng ta, khiến chúng ta hướng tâm trí đến vận mệnh bất tử mà sự kiện đó báo trước.”

Vâng ! Đức Phao-lô VI nhắc nhở : Chúng ta được dựng nên cho vĩnh cửu, và vĩnh cửu bắt đầu ngay tại khoảnh khắc này, vì Chúa ở giữa chúng ta, Người sống với và sống trong Giáo Hội của Người.

Khi chúng ta tưởng niệm Vị Tiền Nhiệm đáng nhớ của tôi trên ngai toà Phê-rô với cảm xúc sâu sắc, chúng ta hãy cầu nguyện để mọi Ki-tô hữu biết kín múc lòng can đảm và sự kiên trì khi chiêm ngắm Chúa Ki-tô, Đấng “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa”,[40] để công bố và làm chứng một cách trung thành qua lời nói và việc làm của Người. Xin Đức Ma-ri-a, Người Mẹ dịu dàng và ân cần quan tâm của chúng ta, giúp chúng ta trở thành những tia sáng rực rỡ của ánh sáng cứu độ là Chúa Giê-su, Con của Mẹ.


Chương 5. Lập bí tích Thánh Thể

Thánh Gio-an Phao-lô II đã viết trong chương 6, Thông điệp Ecclesia de Eucharista về bí tích Thánh Thể trong mối tương quan với Giáo Hội :


Tại trường học của Đức Ma-ri-a, “người phụ nữ của Thánh Thể”.

Nếu muốn khám phá lại mối tương quan sâu sắc giữa Giáo Hội và Thánh Thể trong tất cả sự phong phú của nó, chúng ta không thể bỏ qua Đức Ma-ri-a, là Mẹ và là hình mẫu của Giáo Hội. Trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae, tôi đã chỉ ra Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là thầy dạy của chúng ta trong việc chiêm ngắm khuôn mặt của Chúa Ki-tô, và tôi đã đưa việc thiết lập bí tích Thánh Thể vào trong số các mầu nhiệm Sáng.[41] Đức Ma-ri-a có thể hướng dẫn chúng ta đến với bí tích cực thánh này, bởi vì chính Mẹ có mối tương quan sâu sắc với Thánh Thể.

Thoạt nhìn, Tin Mừng không đề cập đến chủ đề này. Câu chuyện về việc thiết lập bí tích Thánh Thể vào đêm Thứ Năm Thánh không đề cập đến Đức Ma-ri-a. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Mẹ đã hiện diện giữa các Tông Đồ đang “đồng tâm nhất trí” cầu nguyện[42] trong cộng đoàn đầu tiên tụ họp sau khi Chúa Lên Trời để chờ đợi Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Chắc chắn Đức Ma-ri-a đã có mặt trong các buổi cử hành Thánh Thể của thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên, những người “siêng năng tham dự lễ bẻ bánh.”[43]

Nhưng ngoài việc tham dự tiệc Thánh Thể, có thể có một bức tranh gián tiếp về mối tương quan của Đức Ma-ri-a với bí tích Thánh Thể, bắt đầu từ thái độ nội tâm của Mẹ. Đức Ma-ri-a là “người phụ nữ của Thánh Thể” trong suốt cuộc đời của Mẹ. Giáo Hội, vốn coi Đức Ma-ri-a là mẫu gương, cũng được kêu gọi bắt chước Mẹ trong mối tương quan của Mẹ với mầu nhiệm cực thánh này. Mysterium fidei ! Đây là mầu nhiệm Đức Tin ! Nếu bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm Đức Tin vượt quá sự hiểu biết của chúng ta đến mức đòi hỏi phải hoàn toàn phó thác vào lời Chúa, thì không ai có thể giống như Đức Ma-ri-a trong vai trò là người hỗ trợ và hướng dẫn chúng ta đạt được thái độ này. Khi lặp lại những gì Chúa Ki-tô đã làm trong Bữa Tiệc Ly để vâng theo lệnh truyền của Người : “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy !”, chúng ta cũng chấp nhận lời mời gọi của Đức Ma-ri-a là vâng lời Người mà không do dự : “Người bảo gì, anh em cứ việc làm theo.”[44] Với cùng một sự quan tâm từ mẫu thể hiện tại tiệc cưới Ca-na, Đức Ma-ri-a dường như nói với chúng ta : “Đừng xao xuyến ; hãy tin tưởng vào lời Con của Mẹ.” Nếu Người có thể biến nước thành rượu, Người cũng có thể biến bánh và rượu thành Mình và Máu Người, và qua mầu nhiệm này, Người ban cho các tín hữu ký ức sống động về cuộc Vượt Qua của Người, trong đó Người trở thành “bánh sự sống”.

Theo một nghĩa nào đó, Đức Ma-ri-a đã sống đức tin Thánh Thể của mình ngay cả trước khi bí tích này được thiết lập, bằng chính việc Mẹ đã dâng hiến cung lòng trinh nguyên của mình cho sự Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa. Trong khi tưởng niệm cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh, bí tích Thánh Thể cũng là sự tiếp nối cuộc Nhập Thể. Vào lúc Truyền Tin, Đức Ma-ri-a đã thụ thai Con Thiên Chúa trong thực tại chất thể là Mình và Máu Người, do đó, Mẹ đã báo trước nơi chính mình mức nào đó điều xảy ra theo tính bí tích nơi mỗi tín hữu, những người đón nhận Mình và Máu Chúa dưới dấu chỉ của bánh và rượu.

Như thế, có một sự tương tự sâu sắc giữa tiếng Xin Vâng mà Đức Ma-ri-a trả lời cho thiên thần, và lời A-men mà mọi tín hữu đáp khi đón nhận Thánh Thể. Đức Ma-ri-a được yêu cầu tin rằng Đấng mà Mẹ thụ thai “bởi Chúa Thánh Thần” là “Con Thiên Chúa”.[45] Tiếp nối đức tin của Đức Trinh Nữ, trong mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta được yêu cầu tin rằng chính Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa và Con của Đức Ma-ri-a, hiện diện trong nhân tính và thiên tính trọn vẹn của Người dưới hình bánh và rượu.

“Em thật có phúc vì đã tin.”[46]  Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Ma-ri-a cũng báo trước đức tin của Giáo Hội vào Thánh Thể. Trong cuộc Thăm Viếng, khi Mẹ đã mang trong lòng mình Ngôi Lời thành xác phàm, thì một cách nào đó, Mẹ đã trở thành “nhà tạm”, “nhà tạm” đầu tiên trong lịch sử, trong đó Con Thiên Chúa, vẫn vô hình đối với con mắt loài người của chúng ta, đã cho phép bà Ê-li-sa-bét tôn thờ, chiếu toả ánh sáng của Người qua đôi mắt và tiếng nói của Đức Ma-ri-a. Há không phải ánh nhìn đăm chiêu của Đức Ma-ri-a khi Mẹ chiêm ngưỡng khuôn mặt của Chúa Ki-tô mới sinh và ôm Người trong vòng tay của mình chính là mẫu mực tình yêu vô song nên truyền cảm hứng cho chúng ta mỗi khi chúng ta rước Thánh Thể đó sao ?

Đức Ma-ri-a, trong suốt cuộc đời bên cạnh Chúa Ki-tô chứ không chỉ trên đồi Can-vê, đã biến chiều kích hy tế của Thánh Thể thành hy tế của chính mình. Khi Mẹ mang Hài Nhi Giê-su đến Đền Thờ Giê-ru-sa-lem “để tiến dâng cho Chúa”,[47] Mẹ đã nghe cụ già Si-mê-ôn báo trước rằng đứa trẻ sẽ là “dấu hiệu cho người đời chống báng” một lưỡi gươm sẽ đâm thấu trái tim Mẹ.[48] Thảm kịch về cuộc đóng đinh Con của Mẹ đã được báo trước như thế, và theo một nghĩa nào đó, Stabat Mater, việc Mẹ đứng đó dưới chân Thập Giá đã được báo trước. Trong quá trình chuẩn bị hằng ngày cho sự kiện Can-vê, Đức Ma-ri-a đã kinh nghiệm một loại “Thánh Thể được báo trước” mà người ta có thể nói là “sự hiệp thông thiêng liêng” của lòng khao khát và sự dâng hiến, sẽ lên đến đỉnh điểm trong sự kết hợp của Mẹ với Con mình trong cuộc Thương Khó của Người, và sau đó được biểu hiện sau Phục Sinh bằng việc Mẹ tham gia vào cử hành Thánh Thể của các Tông Đồ, như là sự tưởng niệm cuộc Thương Khó ấy.

Đức Ma-ri-a chắc hẳn đã cảm thấy gì khi nghe từ miệng của các ông Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê và các Tông Đồ khác những lời được nói ra trong Bữa Tiệc Ly : “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em” ?[49] Thân thể bị nộp vì chúng ta và trở nên hiện diện dưới các dấu chỉ bí tích là thân thể mà Mẹ đã cưu mang trong lòng mình ! Đối với Đức Ma-ri-a, cách nào đó việc đón nhận Thánh Thể có nghĩa là một lần nữa đón nhận vào lòng mình trái tim đã đập cùng nhịp với trái tim Mẹ, và sống lại những gì Mẹ đã trải qua dưới chân Thập Giá.

“Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.” [50] Trong “lễ tưởng niệm” Can-vê, tất cả những gì Chúa Ki-tô đã thực hiện qua cuộc Thương Khó và cái Chết của Người đều hiện diện. Do đó, tất cả những gì Chúa Ki-tô đã làm liên quan với Mẹ Người vì ích lợi của chúng ta cũng hiện diện. Người đã trao người môn đệ yêu dấu cho Mẹ, và qua người môn đệ ấy, Người trao mỗi người chúng ta : “Đây là Con của Bà !” Với mỗi người chúng ta, Người cũng nói : “Đây là Mẹ của con !” [51] Tưởng niệm cái chết của Chúa Ki-tô trong thánh lễ cũng có nghĩa là không ngừng đón nhận món quà này. Nó chính là việc đón nhận, như Gio-an, người Mẹ lại được trao để làm Mẹ chúng ta. Điều đó cũng có nghĩa là cam kết trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô, đặt mình vào trường học của Mẹ Người và để Mẹ đồng hành với chúng ta. Đức Ma-ri-a hiện diện, với Giáo Hội và trong tư cách là Mẹ của Giáo Hội, trong mỗi lần chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể. Nếu Giáo Hội và bí tích Thánh Thể không thể tách rời, thì điều tương tự cũng phải được nói về Đức Ma-ri-a và bí tích Thánh Thể. Đây là một lý do tại sao, từ thời xa xưa, việc tưởng nhớ Đức Ma-ri-a luôn là một phần trong các cử hành Thánh Thể của các Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương.

Trong Thánh Thể, Giáo Hội hoàn toàn hiệp nhất với Chúa Ki-tô và hy tế của Người, và làm cho tinh thần của Đức Ma-ri-a trở thành của Giáo Hội. Sự thật này có thể được nhận biết sâu sắc hơn khi đọc lại lời kinh Magnificat từ nhãn giới thánh lễ. Thánh lễ, giống như bài ca của Đức Ma-ri-a, trước hết và trên hết là lời ngợi khen và tạ ơn. Khi Đức Ma-ri-a thốt lên : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”, thì Mẹ đã mang Chúa Giê-su trong lòng Mẹ. Mẹ ngợi khen Thiên Chúa “qua” Chúa Giê-su, nhưng Mẹ cũng ngợi khen Người “trong” Chúa Giê-su và “với” Chúa Giê-su. Đây chính là “tâm tình Thánh Thể” đích thực.

Đồng thời, Đức Ma-ri-a nhớ lại những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ để hoàn thành lời hứa với các tổ phụ,[52] và công bố điều kỳ diệu vượt trên tất cả, đó là mầu nhiệm Nhập Thể cứu chuộc. Cuối cùng, bài ca Magnificat phản ánh sức căng của Thánh Thể hướng về cánh chung. Mỗi lần Con Thiên Chúa lại đến với chúng ta trong “sự đơn nghèo" của các dấu chỉ bí tích là bánh và rượu, những hạt giống của lịch sử mới trong đó những kẻ quyền thế bị “hạ bệ khỏi ngai vàng” và “những kẻ thấp hèn được tôn vinh”,[53] sẽ bén rễ trong thế giới. Đức Ma-ri-a hát về “trời mới” và “đất mới” vốn tìm thấy trong Thánh Thể sự báo trước, cũng như tìm thấy chương trình và kế hoạch cho “trời mới đất mới” ấy. Bài ca Magnificat diễn tả linh đạo của Đức Ma-ri-a, và không có gì vĩ đại hơn linh đạo này trong việc giúp chúng ta kinh nghiệm mầu nhiệm Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể đã được ban cho chúng ta để cuộc sống của chúng ta, giống như cuộc sống của Đức Ma-ri-a, có thể trở thành một bài ca Magnificat trọn vẹn !

*** Hết ***

[1] Gio-an 8,12

[2] x. 2 Cô-rin-tô 5,21

[3] x. Mát-thêu 3,17 và các đoạn tương tự

[4] x. Gio-an 2,1-12

[5] x. Mác-cô 1,15

[6] x. Mác-cô 2,3-13 ; Lu-ca 7,47-48

[7] x. Lu-ca 9,35 và các đoạntương tự

[8] x. Lu-ca 9,35 và các đoạn tương tự

[9] Gio-an 13,1

[10] x. Mác-cô 3,31-5 ; Gio-an 2,12

[11] Gio-an 2,5

[12] Lu-ca 3,2-3

[13] Gio-an 2,1

[14] x. Redemptoris Mater, số 21

[15] Gio-an 2,2

[16] Gio-an 2,3

[17] Gio-an 2,11

[18] Gio-an 2,4

[19] x. Mát-thêu 15,28

[20] x. Gio-an 4,21

[21] x. Gio-an 8,10

[22] x. Gio-an 20,13

[23] Gio-an 2,4

[24] Gio-an 2,7

[25] Mát-thêu 15,24-26

[26] Mát-thêu 7,7 ; Lu-ca 11,9

[27] Gio-an 18,37

[28] Gio-an 18,37

[29] Gio-an 18,37

[30] Khải huyền 1,5

[31] Phi-líp-phê 2,8

[32] Mát-thêu 27,42

[33] x. Gio-an 10,11

[34] Khải huyền 1,5

[35] Khải huyền 1,18

[36] Khải huyền 1,5

[37] x. Khải huyền 1,8

[38] x. Mác-cô 11,10

[39] x. Đa-ni-en 7,14

[40] Híp-ri 1,3

[41] x. Số. 21, AAS 95 (2003), 20

[42] x. Công vụ Tông Đồ 1,14

[43] Công vụ Tông Đồ 2,42

[44] Gio-an 2,5

[45] Lu-ca 1,30-35

[46] Lu-ca 1,45

[47] Lu-ca 2,22

[48] x. Lu-ca 2,34-35

[49] Lu-ca 22,19

[50] Lu-ca 22,19

[51] x. Gio-an 19,26-27

[52] x. Lu-ca 1,55

[53] x. Lu-ca 1,52

bottom of page