Phần 3: Kinh Mân Côi với thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II - Các Mầu Nhiệm Vui
- Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

- 24 thg 10
- 25 phút đọc
Scott L. Smith (biên tập)
Trích từ Tông thư Rosarium Virginis Mariae của Thánh Gio-an Phao-lô II
Năm chục đầu tiên là “các mầu nhiệm Vui”, được đánh dấu bằng niềm vui toả ra từ sự kiện Nhập Thể. Điều này rõ ràng ngay từ mầu nhiệm đầu tiên, biến cố Truyền Tin, trong đó lời chào của sứ thần Gáp-ri-en với Đức Trinh Nữ thành Na-da-rét được liên kết với lời mời gọi vui niềm vui thiên sai : “Ma-ri-a, hãy vui lên.” Toàn bộ lịch sử cứu độ, theo một nghĩa nào đó là toàn bộ lịch sử thế giới, đã dẫn đến lời chào này. Nếu đó là kế hoạch của Chúa Cha để hợp nhất mọi sự trong Chúa Ki-tô, thì cách nào đó, toàn thể vũ trụ được ân sủng thần linh chạm đến, với ân sủng này Chúa Cha nhìn đến Đức Ma-ri-a và làm cho người trở thành Mẹ của Chúa Con. Đến lượt mình, toàn thể nhân loại được ôm lấy bởi lời Xin Vâng mà Mẹ thưa lên, sẵn sàng hưởng ứng thánh ý của Thiên Chúa.
Vui mừng hân hoan là âm hưởng chính của cuộc gặp gỡ với bà Ê-li-sa-bét, trong đó tiếng nói của Đức Ma-ri-a và sự hiện diện của Chúa Ki-tô trong lòng Mẹ khiến con trẻ Gio-an “nhảy mừng”.80 Niềm vui cũng tràn ngập khung cảnh ở Bê-lem, khi sự ra đời của Chúa Hài Nhi, Đấng cứu độ trần gian, được bài ca của các thiên thần loan báo và được công bố cho những người chăn chiên như là “tin mừng trọng đại”.
Hai mầu nhiệm cuối cùng, trong khi vẫn giữ sắc thái vui mừng này, đã bắt đầu hướng đến kịch tính sẽ xảy ra. Việc dâng Chúa vào Đền Thờ không chỉ diễn tả niềm vui của việc thánh hiến Hài Nhi và sự xuất thần của cụ già Si-mê-ôn ; mà sự kiện này còn ghi lại lời tiên tri Chúa Ki-tô sẽ là “dấu hiệu mâu thuẫn” đối với Ít-ra-en, và một lưỡi gươm sẽ đâm thấu trái tim của Mẹ Người. Niềm vui pha lẫn với kịch tính đánh dấu mầu nhiệm thứ năm, việc tìm thấy Con Trẻ Giê-su mười hai tuổi trong Đền Thờ.
Ở đây, Người xuất hiện trong sự khôn ngoan thần linh của mình khi Người lắng nghe và đặt các câu hỏi, trong thực tế đã là một người “dạy dỗ”. Sự mặc khải về mầu nhiệm của Người là Người Con hoàn toàn phụng sự công việc của Chúa Cha công bố bản chất triệt để của Tin Mừng, trong đó ngay cả những mối tương quan gần gũi nhất của con người cũng bị những đòi hỏi tuyệt đối của Nước Trời thách thức. Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se, đầy âu lo, đã “không hiểu” những điều Chúa Giê-su nói.
Vì thế, suy gẫm các mầu nhiệm “vui” là đi vào nguyên nhân tối hậu và ý nghĩa sâu xa nhất của niềm vui Ki-tô giáo. Đó là tập trung vào tính hiện thực của mầu nhiệm Nhập Thể, cũng như thoáng nhìn mầu nhiệm Thương có sức cứu độ. Đức Ma-ri-a dẫn chúng ta khám phá bí mật của niềm vui Ki-tô giáo, nhắc chúng ta nhớ rằng Ki-tô giáo trước hết và trên hết “tin mừng”, với trung tâm và toàn bộ nội dung là con người của Chúa Giê-su Ki-tô, là Ngôi Lời trở thành xác phàm, Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian.
Chương 1. Truyền tin
Thánh Gio-an Phao-lô II có bài giảng sau đây tại Na-da-rét trong chuyến hành hương Năm Thánh của ngài đến Thánh Địa, trong thánh lễ tại Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, thứ Bảy, ngày 25 tháng 3 năm 2000
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”[1] ...
Vào ngày này, toàn thể Giáo Hội hướng mắt về Na-da-rét. Tôi đã mong muốn được trở lại thị trấn của Chúa Giê-su, để tiếp xúc với nơi này và một lần nữa cảm nhận sự hiện diện của người phụ nữ mà thánh Augustinô đã viết : “Người đã chọn người Mẹ mà Người đã tạo ra ; Người đã tạo ra người Mẹ mà Người đã chọn.”[2] Ở đây, thật dễ hiểu tại sao mọi thế hệ đều gọi Đức Ma-ri-a là người có phúc.[3]
… Chúng ta tụ họp để cử hành mầu nhiệm cao cả được thực hiện tại nơi này cách đây hai ngàn năm. Thánh Lu-ca đã đặt sự kiện này một cách rõ ràng vào thời gian và địa điểm : “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.”[4]
Nhưng để hiểu những gì đã diễn ra ở Na-da-rét hai ngàn năm trước, chúng ta phải trở lại với bài đọc trích từ thư gửi tín hữu Híp-ri. Bản văn đó cho phép chúng ta lắng nghe đúng cuộc đàm thoại giữa Chúa Cha và Chúa Con về mục đích của Thiên Chúa từ đời đời : “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.”[5] Thư gửi tín hữu Híp-ri cho ta biết trong niềm vâng phục ý Chúa Cha, Ngôi Lời Hằng Hữu đến giữa chúng ta để dâng hy lễ vượt trên mọi hy lễ của Giao ước cũ. Hy lễ của Người là hy lễ hoàn hảo và vĩnh cửu có sức cứu chuộc thế gian.
Kế hoạch của Thiên Chúa dần được vén mở trong Cựu Ước, đặc biệt là trong lời của ngôn sứ I-sai-a chúng ta vừa nghe : “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu : Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.”[6] Em-ma-nu-en – Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Những lời này báo trước sự kiện độc nhất sẽ diễn ra tại Na-da-rét vào thời điểm viên mãn, chính là sự kiện mà chúng ta đang cử hành đây với niềm vui và hạnh phúc sâu xa.
Cuộc hành hương Năm Thánh của chúng ta là một hành trình trong tinh thần, bắt đầu theo bước chân của tổ phụ Áp-ra-ham, “cha chúng ta trong đức tin”.[7] Hành trình đó hôm nay đã đưa chúng ta đến Na-da-rét nơi chúng ta gặp Đức Ma-ri-a, nữ tử chân thật nhất của tổ phụ Áp-ra-ham. Đức Ma-ri-a là người trước hết có thể dạy chúng ta ý nghĩa việc sống đức tin của “tổ phụ chúng ta”. Về nhiều mặt, Đức Ma-ri-a rõ ràng khác với ông Áp-ra-ham ; nhưng ở những tầm sâu hơn thì “người bạn của Thiên Chúa” và người thiếu nữ Na-da-rét rất giống nhau.[8]
Cả hai đều nhận được lời hứa tuyệt vời của Thiên Chúa. Ông Áp-ra-ham sẽ là cha của một người con trai, từ đó sẽ phát sinh một dân tộc lớn. Đức Ma-ri-a sẽ là Mẹ của Người Con là Đấng Mê-si-a, Đấng được xức dầu. “Này đây !” Sứ thần Gáp-ri-en nói, “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”[9]
Đối với cả tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Ma-ri-a, lời hứa của Thiên Chúa đến như một điều hoàn toàn bất ngờ. Thiên Chúa phá vỡ tiến trình cuộc sống hằng ngày của họ, đảo lộn nhịp điệu ổn định và những kỳ vọng thông thường của nó. Đối với cả tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Ma-ri-a, lời hứa dường như là bất khả thi. Vợ của ông Áp-ra-ham là bà Xa-ra bị hiếm muộn, và Đức Ma-ri-a vẫn chưa sống đời vợ chồng : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !”[10]
Giống như tổ phụ Áp-ra-ham, Đức Ma-ri-a được mời gọi thưa “vâng” trước một điều chưa từng xảy ra bao giờ. Bà Xa-ra là người đầu tiên trong chuỗi những người vợ hiếm muộn trong Kinh Thánh thụ thai nhờ quyền năng của Chúa, cũng như bà Ê-li-sa-bét sẽ là người cuối cùng. Sứ thần Gáp-ri-en nói về bà Ê-li-sa-bét để trấn an Đức Ma-ri-a : “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai.”[11]
Giống như tổ phụ Áp-ra-ham, Đức Ma-ri-a phải bước qua bóng tối, trong đó Mẹ phải hoàn toàn tin tưởng vào Đấng đã gọi mình. Tuy nhiên, ngay cả câu hỏi của Mẹ, “Điều đó xảy ra thế nào được ?” cũng cho thấy Mẹ đã sẵn sàng nói “vâng”, bất chấp những sợ hãi và hoang mang. Đức Ma-ri-a không hỏi liệu lời hứa có thể xảy ra hay không, mà chỉ hỏi làm thế nào lời hứa đó được ứng nghiệm. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi cuối cùng Mẹ thốt lên lời Xin Vâng : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”[12] Với những lời này, Đức Ma-ri-a cho thấy mình thật sự là con gái của tổ phụ Áp-ra-ham, và trở thành Mẹ của Chúa Ki-tô và Mẹ của tất cả các tín hữu.
Để đi sâu hơn vào mầu nhiệm này, chúng ta hãy nhìn lại khoảnh khắc trong cuộc hành trình của tổ phụ Áp-ra-ham khi ông nhận được lời hứa. Đó là khi ông chào đón ba vị khách bí ẩn đến nhà mình,[13] và diễn tả sự tôn thờ dành cho Thiên Chúa : tres vidit et unum adoravit. Cuộc gặp gỡ huyền nhiệm ấy báo trước biến cố Truyền Tin, khi Đức Ma-ri-a được lôi kéo mạnh mẽ vào sự hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Qua lời Xin Vâng mà Đức Ma-ri-a thưa lên ở Na-da-rét, sự kiện Nhập Thể đã trở thành sự hoàn thành kỳ diệu cuộc gặp gỡ của ông Áp-ra-ham với Thiên Chúa. Vì vậy, theo bước chân của ông Áp-ra-ham, chúng ta đã đến Na-da-rét, để ca ngợi người phụ nữ “được Chúa dùng để chiếu rọi ánh sáng trên trái đất”.[14]
Nhưng chúng ta cũng đến đây để cầu xin Mẹ. Là những người hành hương trên con đường tiến vào thiên niên kỷ thứ ba của Ki-tô giáo, chúng ta cầu xin Mẹ Thiên Chúa điều gì ? Tại thị trấn này, nơi mà Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, khi đến thăm Na-da-rét, đã gọi là “trường học Phúc Âm”, nơi “chúng ta học cách nhìn và lắng nghe, suy gẫm và thấu hiểu ý nghĩa sâu xa và huyền bí của sự xuất hiện rất đơn giản, rất khiêm nhường và rất đẹp đẽ của Con Thiên Chúa”,[15] trước hết, tôi cầu xin một đức tin vững mạnh hơn nơi tất cả con cái của Giáo Hội. Một sự đổi mới đức tin sâu sắc : không chỉ như một cái gì chung chung của cuộc sống, mà như một lời tuyên xưng can đảm và đầy ý thức về Kinh Tin Kính : “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria và đã làm người."
Tại Na-da-rét, nơi Chúa Giê-su “càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta”,[16] tôi cầu xin Thánh Gia truyền cảm hứng cho tất cả các Ki-tô hữu bảo vệ gia đình khỏi rất nhiều mối đe doạ hiện nay đối với bản chất, sự ổn định và sứ mạng của gia đình.
Tôi ký thác cho Thánh Gia những nỗ lực của các Ki-tô hữu và của mọi người thiện chí trong việc bảo vệ sự sống và thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá của mọi con người. Tôi thánh hiến các gia đình của Đất Thánh, các gia đình trên thế giới cho Đức Ma-ri-a, Theotokos, Mẹ Thiên Chúa cao cả.
Tại Na-da-rét, nơi Chúa Giê-su bắt đầu sứ vụ công khai của mình, tôi cầu xin Đức Ma-ri-a giúp Giáo Hội ở khắp mọi nơi rao giảng “tin mừng” cho người nghèo, như Chúa đã làm.[17] Trong “năm hồng ân của Chúa” này, tôi cầu xin Mẹ dạy chúng ta con đường vâng phục Tin Mừng cách khiêm nhường và vui tươi trong việc phục vụ anh chị em mình, không thiên vị và không thành kiến.
“Lạy Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể, xin đừng chê bỏ lời con cầu xin, nhưng xin lắng nghe và đáp lời con trong lòng nhân hậu của Mẹ. A-men.”[18]
Chương 2. Chuyến đi thăm
Trích từ Thông điệp Redemptoris Mater của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, “Về Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, trong đời sống của Giáo Hội lữ hành”, Phần hai, “Phúc cho người đã tin”.
Ngay sau trình thuật Truyền Tin, thánh Lu-ca dẫn chúng ta theo dấu chân của Đức Trinh Nữ thành Na-da-rét đến “một thành của Giu-đa.”[19] Theo các học giả, thành này là Ain-Karim hiện nay, nằm trên núi, không xa Giê-ru-sa-lem. Đức Ma-ri-a đã “vội vã” đến đó, để thăm bà Ê-li-sa-bét, người chị họ của mình. Lý do cho chuyến viếng thăm của Mẹ thực tế cũng được tìm thấy trong cuộc Truyền Tin, sứ thần Gáp-ri-en đã đặc biệt nhắc đến bà Ê-li-sa-bét, người phụ nữ cao niên đã thụ thai con trai với chồng mình là ông Da-ca-ri-a, nhờ quyền năng của Thiên Chúa : “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”[20] Vị sứ giả của Thiên Chúa đã nói về những gì đã được thực hiện nơi bà Ê-li-sa-bét để trả lời câu hỏi của Đức Ma-ri-a. “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !”[21] Việc đó xảy ra chính xác thông qua “quyền năng của Đấng Tối Cao”, giống như những gì đã xảy ra trong trường hợp của bà Ê-li-sa-bét, và thậm chí còn hơn thế nữa.
Do đó, được thúc đẩy bởi lòng bác ái, Đức Ma-ri-a đến nhà người chị họ của mình. Khi Đức Ma-ri-a bước vào, bà Ê-li-sa-bét đáp lại lời chào và cảm thấy đứa trẻ nhảy lên trong bụng mình, và được “tràn đầy Thánh Thần”, bà chào Đức Mari-a lớn tiếng : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.”[22] Lời tán tụng hay tung hô này của bà Ê-li-sa-bét về sau trở thành một phần của Kinh Kính Mừng, như một tiếp nối lời chào của sứ thần, do đó trở thành một trong những lời cầu nguyện được sử dụng thường xuyên nhất của Giáo Hội. Nhưng còn có ý nghĩa hơn nữa là những lời của bà Ê-li-sa-bét trong câu hỏi tiếp theo : “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?”[23] Bà Ê-li-sa-bét làm chứng cho Đức Ma-ri-a : bà nhận ra và công bố rằng đứng trước mặt mình là Mẹ của Chúa, Mẹ của Đấng Mê-si-a. Đứa con trai mà bà Ê-li-sa-bét đang mang trong bụng cũng chia sẻ lời chứng này : “Đứa con trong bụng tôi đã nhảy lên vì vui sướng.”[24] Đứa trẻ này chính là Gio-an Tẩy Giả trong tương lai, người sẽ chỉ ra Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a tại sông Gio-đan.
Trong khi từng lời chào của bà Ê-li-sa-bét đều chứa đầy ý nghĩa, thì những lời cuối cùng của bà dường như có tầm quan trọng nền tảng : “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”[25] Những lời này có thể được liên kết với lời chào “đầy ơn phúc” của sứ thần. Cả hai bản văn này đều tiết lộ một nội dung thiết yếu có tính Thánh Mẫu học, cụ thể là sự thật về Đức Ma-ri-a, người đã thật sự hiện diện trong mầu nhiệm Chúa Ki-tô chính bởi vì Mẹ “đã tin.” Sự đầy ơn phúc được thiên thần công bố là quà tặng của chính Thiên Chúa. Đức tin của Đức Ma-ri-a, được bà Ê-li-sa-bét công bố trong Cuộc Thăm Viếng, cho thấy cách mà Trinh Nữ thành Na-da-rét đáp lại món quà này.
Như Công Đồng dạy, “sự vâng phục của đức tin” phải được trao cho Thiên Chúa, Đấng mặc khải, một sự vâng phục mà qua đó con người tự do phó thác trọn bản thân mình cho Thiên Chúa.[26] Mô tả này về đức tin đã được hiện thực hoàn toàn nơi Đức Ma-ri-a. Khoảnh khắc “quyết định” là biến cố Truyền Tin, và chính những lời của bà Ê-li-sa-bét, “phúc cho em vì đã tin”, ám chỉ trước hết đến chính khoảnh khắc đó.
Chương 3. Chúa giáng sinh
Sứ điệp Urbi et Orbi của Thánh Gio-an Phao-lô II, Giáng Sinh năm 2003
Descendit de caelis Salvator mundi. Gaudeamus ! Đấng Cứu Độ thế gian đã từ trời xuống thế. Chúng ta hãy vui lên ! Lời công bố này, đầy niềm vui sâu xa, đã vang vọng trong đêm Bê-lem. Hôm nay, Giáo Hội nhắc lại lời công bố này với cùng một niềm vui : Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho chúng ta ! Một làn sóng dịu dàng và hy vọng tràn ngập trái tim chúng ta, cùng với nhu cầu mãnh liệt về sự gần gũi và bình an. Trong máng cỏ, chúng ta chiêm ngưỡng Đấng đã tự tước bỏ vinh quang thần linh để trở nên nghèo khó, được thúc đẩy bởi tình yêu dành cho nhân loại. Bên máng cỏ, cây thông No-en, với những ánh đèn nhấp nháy, nhắc nhở chúng ta rằng với sự chào đời của Chúa Giê-su, cây sự sống đã nở hoa trở lại trong sa mạc của nhân loại. Máng cỏ và cây thông là những biểu tượng quý giá, truyền lại trong lịch sử ý nghĩa chân thật của Giáng Sinh ! Trên trời vang vọng lời loan báo của các thiên thần : “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.” [27]
Thật kỳ diệu ! Với việc sinh ra tại Bê-lem, Con Hằng Hữu của Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của mỗi con người sống trên mặt đất này. Giờ đây Người hiện diện trong thế giới như Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Vì thế, chúng ta cầu nguyện với Người : Lạy Đấng cứu độ trần gian, xin cứu chúng con ! Xin cứu chúng con khỏi những sự dữ hung hãn đang xé nát nhân loại trong những năm đầu tiên này của thiên niên kỷ thứ ba. Xin cứu chúng con khỏi các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang đang phá sạch những vùng rộng lớn trên thế giới, Xin cứu chúng con khỏi tai hoạ khủng bố và khỏi bao hình thức bạo lực đang tấn công những người yếu đuối và dễ bị tổn thương. Xin cứu chúng con khỏi sự nản lòng khi chúng con đứng trước những con đường dẫn đến hoà bình, thật sự là những con đường khó khăn, nhưng vẫn có thể và do đó cần thiết ; những con đường khẩn cấp mọi lúc mọi nơi, nhất là ở vùng Đất nơi Chúa đã sinh ra, trong tư cách Hoàng Tử Hoà Bình. Lạy Mẹ Ma-ri-a, Trinh Nữ của sự mong đợi và sự hoàn thành, Mẹ là người nắm giữ bí mật của Giáng Sinh, xin giúp chúng con nhận ra nơi Hài Nhi được bồng ẵm trên tay Mẹ, chính là Đấng Cứu Độ được báo trước, Đấng mang lại hy vọng và hoà bình cho mọi người. Cùng với Mẹ, chúng con thờ phượng Người và tin tưởng thưa lên : Lạy Chúa, chúng con cần Chúa, Đấng cứu chuộc loài người, Chúa biết những niềm hy vọng và những nỗi sợ hãi trong lòng chúng con. Xin Chúa hãy đến và ở lại với chúng con ! Xin cho niềm vui Chúa Giáng Sinh lan toả đến mọi góc biển chân trời !
Chương 4. Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh
Thánh Gio-an Phao-lô II có bài giảng sau đây vào lễ Dâng Chúa Giê-su vào Đền Thánh, ngày 2 tháng 2 năm 1998
Lumen ad revelationem gentium ![28] Ánh sáng soi đường cho dân ngoại ! Những lời này vang vọng trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, bốn mươi ngày sau khi Chúa Giê-su ra đời, Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se chuẩn bị “dâng Hài Nhi cho Chúa”.[29] Bằng cách nhấn mạnh sự tương phản giữa hành động khiêm nhường đơn sơ của cha mẹ Hài Nhi và vinh quang của sự kiện như được ông Si-mê-ôn và bà An-na cảm nhận, thánh Lu-ca rõ ràng muốn ám chỉ rằng chính Đền Thờ đang chờ đợi Hài Nhi đến. Thật vậy, trong cung cách ngôn sứ của hai vị cao niên, toàn bộ Cựu Ước thể hiện niềm vui được gặp gỡ Đấng Cứu Chuộc. Ông Si-mê-ôn và bà An-na đến Đền Thờ, cả hai đều khao khát Đấng Mê-si-a, cả hai đều được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, khi Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se đưa Chúa Giê-su đến đó để tuân hành các điều luật dạy. Vừa nhìn thấy Hài Nhi, các vị cảm thấy đây đúng là Đấng được mong đợi, và ông Si-mê-ôn, như thể xuất thần, đã công bố : “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân : Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.”[30]
Ánh sáng soi đường cho dân ngoại ! Bằng những lời đầy cảm hứng của mình, ông Si-mê-ôn, một người của Cựu Ước, một người của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, bày tỏ niềm xác tín của mình rằng Ánh Sáng này không chỉ dành cho Ít-ra-en, nhưng còn cho các dân ngoại và cho mọi dân tộc trên trái đất. Cùng với ông, thế giới “già nua” đón nhận trong vòng tay mình sự huy hoàng của “tuổi trẻ” vĩnh cửu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, bóng của Thập Giá đã lờ mờ trên bức phông, bởi vì bóng tối sẽ từ chối Ánh Sáng đó. Thật vậy, hướng về Đức Ma-ri-a, ông Si-mê-ôn đã nói tiên tri : “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng ; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.”[31]
Ánh sáng soi đường cho dân ngoại ! Những lời trong bài thánh ca của ông Si-mê-ôn vang lên trong nhiều đền thờ của Giao Ước Mới, nơi mà mỗi buổi tối, các môn đồ của Chúa Ki-tô kết thúc Phụng vụ Giờ Kinh bằng Kinh Tối. Bằng cách này, Giáo Hội, dân của Giao Ước Mới, vận dụng như lời cuối cùng của Cựu Ước và công bố sự ứng nghiệm của lời hứa thần linh, loan báo rằng “ánh sáng soi đường cho dân ngoại” đã lan toả khắp mặt đất và hiện diện ở khắp mọi nơi trong công trình cứu chuộc của Chúa Ki-tô.
Cùng với bài ca của ông Si-mê-ôn, Phụng vụ Giờ Kinh nhắc lại những lời cuối cùng của Chúa Ki-tô trên Thập Giá : In manus tuas, Domine, commendo spiritum meum : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”[32] Phụng vụ Giờ Kinh cũng mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng với sự ngạc nhiên và lòng biết ơn hành động cứu độ của Chúa Ki-tô, là “ánh sáng soi đường cho dân ngoại”, vì lợi ích của nhân loại : Redemisti nos, Domine, Deus veritatis : “Lạy Chúa, Thiên Chúa của chân lý, Chúa đã cứu chuộc chúng con.” Bằng cách này, Giáo Hội công bố sự hoàn thành của công cuộc Cứu Chuộc thế giới, được các ngôn sứ mong đợi và được ông Si-mê-ôn công bố trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Ánh sáng soi đường cho dân ngoại ! Hôm nay, với những ngọn nến thắp sáng, chúng ta cũng đến gặp Người là “Ánh sáng của thế gian” và chúng ta chào đón Người trong Giáo Hội của Người với tất cả lòng nhiệt thành của đức tin do Phép Rửa. Bất cứ ai chân thành tuyên xưng đức tin này đều được hứa hẹn “cuộc gặp gỡ” cuối cùng, dứt khoát với Chúa trong vương quốc của Người. Trong truyền thống Ba Lan, cũng như ở các quốc gia khác, những cây nến được làm phép này có ý nghĩa đặc biệt vì sau khi được mang về nhà, chúng được thắp sáng trong những lúc nguy hiểm, trong những cơn bão và thảm hoạ, như một dấu hiệu phó thác bản thân, gia đình và mọi tài sản cho sự bảo vệ của Chúa. Đây là lý do tại sao những ngọn nến này được gọi là gromnice trong tiếng Ba Lan, nghĩa là những ngọn nến ngăn chặn sét đánh và bảo vệ khỏi ma quỷ, và tại sao lễ này được gọi là Candlemas (nghĩa đen là : Lễ nến Đức Mẹ) [“gromnice”]). Hùng hồn hơn nữa, đó là phong tục đặt cây nến được làm phép ngày hôm nay vào tay một người Ki-tô hữu đang hấp hối, để nó có thể soi sáng những bước cuối cùng của người đó trên con đường đến cõi vĩnh hằng. Thực hành này nhằm cho thấy bằng cách đi theo ánh sáng của đức tin, người hấp hối đang chờ đợi để bước vào nơi ở vĩnh cửu, nơi “không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần đèn đuốc hay ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ”.[33] Thánh vịnh đáp ca hôm nay cũng nói về việc bước vào vương quốc ánh sáng này : “Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào.”[34]
Những lời này ám chỉ trực tiếp đến Chúa Giê-su Ki-tô, người bước vào Đền Thờ của Giao Ước Cũ trong vòng tay của cha mẹ mình, nhưng chúng ta cũng có thể áp dụng chúng cho mọi tín hữu bước qua ngưỡng cửa của cõi vĩnh hằng, được Giáo Hội ẵm bồng trong vòng tay. Các tín hữu đồng hành với cuộc hành trình cuối cùng của người ấy bằng lời cầu nguyện : “Xin ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên … !”, xin các thiên thần và các thánh chào đón …, và xin Chúa Ki-tô, Đấng cứu chuộc con người, đón nhận … trong ánh sáng vĩnh cửu của Người. Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta cử hành Ngày Đời Sống Thánh Hiến lần thứ hai, nhằm khơi dậy mối quan tâm mới mẻ trong Giáo Hội về món quà ơn gọi đời sống thánh hiến. Anh chị em nam nữ tu sĩ, các thành viên tu hội đời và đời sống tông đồ thân mến, Chúa đã kêu gọi anh chị em theo Người một cách đặc biệt gần gũi. Trong thời đại của chúng ta, bị chi phối bởi chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa duy vật, bằng sự dâng hiến hoàn toàn và dứt khoát của mình cho Chúa Ki-tô, anh chị em là dấu chỉ của một lối sống khác với lô-gích của thế gian, bởi vì nó được truyền cảm hứng triệt để bởi Tin Mừng và hướng đến những thực tại cánh chung trong tương lai. Anh chị em hãy luôn trung thành với ơn gọi đặc biệt này !
… Những ngọn nến thắp sáng trên tay mỗi người trong phần đầu của Phụng vụ long trọng này cho thấy sự tỉnh thức trông đợi Chúa, là điều đánh dấu đời sống của mọi tín hữu, cách riêng là đời sống của những người được Chúa kêu gọi nhận một sứ mạng đặc biệt trong Giáo Hội. Chúng là lời nhắc nhở mạnh mẽ việc làm chứng cho Chúa Ki-tô trong thế giới, là ánh sáng không bao giờ lụi tàn : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”[35] Anh chị em thân mến, mong sao lòng trung thành trọn vẹn của anh chị em đối với Chúa Ki-tô nghèo khó, trong sạch và vâng phục trở thành nguồn ánh sáng và hy vọng cho mọi người anh chị em gặp gỡ.
Ánh sáng soi đường cho dân ngoại ! Mẹ Ma-ri-a đã mau mắn trong vâng phục, can đảm trong nghèo khó, và sẵn sàng tiếp nhận trong sự trinh khiết đầy hoa trái khi Mẹ hoàn thành ý muốn của Chúa Cha, xin Mẹ chuyển cầu để Chúa Giê-su ban cho “tất cả những ai đã nhận được ân sủng theo Người trong đời sống thánh hiến có thể làm chứng cho ân sủng ấy bằng cuộc sống được biến đổi của mình, khi họ vui vẻ tiến bước cùng với tất cả anh chị em mình về quê hương thiên đàng, nơi ánh sáng sẽ không bao giờ tàn lụi.[36] Chúc tụng Chúa Giê-su Ki-tô !
Chương 5. Tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền Thờ
Diễn từ của Thánh Gio-an Phao-lô II vào thứ Tư, ngày 15 tháng 1 năm 1997, trong buổi Tiếp Kiến Chung
Đức Ma-ri-a hợp tác bằng sự vâng phục của riêng mình. Thánh Lu-ca mô tả cuộc hành hương của thiếu niên Giê-su đến Đền Thờ ở Giê-ru-sa-lem như phân đoạn cuối cùng của trình thuật thời thơ ấu, trước khi bắt đầu việc rao giảng của ông Gio-an Tẩy Giả. Đây là một dịp thường lệ, cho thấy những năm tháng ẩn dật của Người ở Na-da-rét. Trong dịp này, với tính cách mạnh mẽ của mình, Chúa Giê-su cho thấy Người ý thức sứ mạng của mình, làm cho sự kiện “vào nhà của Cha” lần thứ hai này mang ý nghĩa của việc hiến dâng trọn vẹn chính mình cho Thiên Chúa, điều vốn đã đánh dấu biến cố Người được dâng trong Đền Thờ.
Đoạn văn này dường như tương phản với ghi chú của thánh Lu-ca là Chúa Giê-su đã vâng phục Thánh Giu-se và Đức Ma-ri-a.[37] Nhưng nếu nhìn kỹ, ở đây Người dường như đặt mình vào một sự đối lập có ý thức và hầu như chủ định so với tình trạng thông thường trong tư cách là con, bất ngờ gây ra sự chia cắt rõ ràng với Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se. Theo quy tắc ứng xử của Người, Chúa Giê-su tuyên bố rằng Người chỉ thuộc về Chúa Cha và không đề cập đến những mối liên hệ với gia đình trần thế của Người. Hành vi của Chúa Giê-su có vẻ rất khác thường.
Qua phân đoạn này, Chúa Giê-su chuẩn bị cho Mẹ Người đi vào mầu nhiệm Cứu Chuộc. Trong ba ngày đầy kịch tính khi Chúa Con rời cha mẹ để ở lại trong Đền Thờ, Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se kinh nghiệm sự tiên báo về Tam Nhật Thánh, cái Chết và sự Phục Sinh của Người.
Để Đức Mẹ và Thánh Giu-se lên đường về Ga-li-lê mà không nói với các ngài ý định ở lại Giê-ru-sa-lem của mình, Chúa Giê-su đưa các ngài vào mầu nhiệm đau khổ dẫn đến niềm vui, tiên báo những gì Người sẽ hoàn tất sau này với các môn đệ của mình xuyên qua lời loan báo về sự Vượt Qua của Người.
Theo lời kể của thánh Lu-ca, trên hành trình trở về Na-da-rét, Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se sau một ngày đi đường đã hoang mang lo lắng cho số phận của trẻ Giê-su. Các ngài tìm kiếm Con mình trong vô vọng giữa những người bà con thân thuộc. Trở lại Giê-ru-sa-lem và gặp thấy Người trong Đền Thờ, các ngài ngạc nhiên khi thấy Người “ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ vừa đặt câu hỏi”.[38] Cung cách của Người có vẻ rất khác thường. Chắc chắn đối với cha mẹ Người, việc tìm thấy Người vào ngày thứ ba ở đây đồng nghĩa với việc khám phá ra một khía cạnh khác về con người và sứ mạng của Người.
Người nắm vai trò của một bậc thầy, như Người sẽ làm sau này trong cuộc sống công khai, nói những lời khiến người ta ngưỡng mộ : “Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu.”[39] Cho thấy sự khôn ngoan khiến người nghe kinh ngạc, Người bắt đầu thực hành nghệ thuật đối thoại sẽ là đặc điểm của sứ mạng cứu rỗi của Người.
Mẹ Người hỏi : “Con ơi, sao con lại đối xử với cha mẹ như vậy ? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con !”[40] Ở đây, chúng ta có thể nhận ra âm vang của những câu hỏi “tại sao” mà rất nhiều bà mẹ thốt lên về nỗi đau khổ mà con cái gây ra cho họ, cũng như những câu hỏi dâng trào trong lòng mỗi người nam nữ trong thời điểm thử thách.
Chúa Giê-su trả lời trong hình thức một câu hỏi, rất ý nghĩa : “Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao ?”[41]
Với câu trả lời này, Người vén mở mầu nhiệm về con người của mình cho Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se một cách bất ngờ, không lường trước được, mời gọi các ngài vượt qua những vẻ bề ngoài và mở ra trước mắt các ngài những chân trời mới cho tương lai của Người.
Trong câu trả lời cho người Mẹ khổ sở của mình, Chúa Con trực tiếp mặc khải lý do cho hành vi của Người. Đức Ma-ri-a đã đề cập “cha của con”, ám chỉ Thánh Giu-se ; Chúa Giê-su trả lời : “Cha của con”, nghĩa là Cha trên trời.
Nhắc đến nguồn gốc thần linh của mình, Chúa Giê-su không muốn nói rằng Đền thờ, nhà của Cha Người, là “nơi” tự nhiên để Người hiện diện, mà đúng hơn Người phải quan tâm đến mọi điều liên quan đến Cha Người và kế hoạch của Cha. Người muốn nhấn mạnh rằng ý muốn của Cha Người là chuẩn mực duy nhất đòi hỏi Người phải vâng phục.
Đề cập này về sự tự hiến hoàn toàn của Người cho kế hoạch của Thiên Chúa được nêu bật trong bản văn Tin Mừng bằng những kiểu nói “Ta phải”, sau này sẽ xuất hiện trong lời báo trước về cuộc Thương Khó.[42]
Vì thế cha mẹ Người được yêu cầu để Người đi và thi hành sứ mạng của Người ở bất cứ nơi đâu mà Cha trên trời dẫn Người đến.
Tác giả Tin Mừng bình luận : “Và hai ông bà không hiểu lời Người vừa nói.”[43] Đức Ma-ri-a và Thánh Giu-se không nắm bắt được ý nghĩa câu trả lời của Người, cũng như không hiểu cách Người phản ứng đối với mối quan tâm của các ngài (đó rõ ràng là phản ứng từ chối !). Với thái độ này, Chúa Giê-su muốn mặc khải những khía cạnh bí ẩn về sự mật thiết của Người với Chúa Cha, những khía cạnh này Đức Ma-ri-a trực giác được nhưng không biết cách liên kết chúng với thử thách mà Mẹ đang trải qua.
Những lời của thánh Lu-ca cho ta thấy cách mà Đức Ma-ri-a sống giai đoạn thật khác thường này trong sâu thẳm tâm khảm mình. Mẹ “ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng”.[44] Mẹ Chúa Giê-su liên kết các sự kiện này với mầu nhiệm của Con mình, được mặc khải cho Mẹ trong sự kiện Truyền Tin, và thinh lặng chiêm ngắm, cống hiến sự cộng tác của mình trong tinh thần của một tiếng “xin vâng” mới.
Bằng cách này, mắt xích đầu tiên được hình thành trong một chuỗi các sự kiện sẽ dần đưa Đức Ma-ri-a vượt quá vai trò tự nhiên của vị thế làm mẹ của mình, để dấn thân phục vụ cho sứ mạng của người Con thần linh.
Tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, trong sự vén mở cho sứ mạng cứu độ của mình, Chúa Giê-su liên kết Mẹ với chính Người ; đó không còn chỉ là người mẹ đã sinh ra Người, mà là người Phụ Nữ, qua sự vâng phục của chính mình đối với kế hoạch của Chúa Cha, có thể cộng tác trong mầu nhiệm Cứu Chuộc.
Ghi nhớ trong lòng mình một sự kiện đầy ý nghĩa như vậy, Đức Ma-ri-a đạt được một chiều kích mới trong sự cộng tác của mình vào công cuộc cứu độ.
[1] Trích từ Kinh Truyền Tin, Lu-ca 1,38
[2] Bài giảng 69, 3, 4
[3] x. Lu-ca 2,48
[4] Lu-ca 1,26-27
[5] Híp-ri 10,5-7
[6] I-sai-a 7,14
[7] Kinh nguyện Thánh Thể Rô-ma ; x. Rô-ma 4,11-12
[8] x. I-sai-a 41,8
[9] Lu-ca 1,31-33
[10] Lu-ca 1,34
[11] Lu-ca 1,36
[12] Lu-ca 1,38
[13] x. Sáng thế 18,1-15
[14] Thánh ca “Ave Regina Caelorum”
[15] Bài diễn văn tại Na-da-rét, ngày 5 tháng 1 năm 1964
[16] Lu-ca 2,52
[17] x. Lu-ca 4,18
[18] Kinh Hãy Nhớ
[19] Lu-ca 1,39
[20] Lu-ca 1,36-37
[21] Lu-ca 1,34
[22] x. Lu-ca 1,40-42
[23] Lu-ca 1,43
[24] Lu-ca 1,44
[25] Lu-ca 1,45
[26] Rô-ma 16,26 ; x. Rô-ma 1,5 ;2 Cô-rin-tô 10,5-6
[27] Lu-ca 2,11
[28] “Ánh sáng mặc khải cho dân ngoại,” Lu-ca 2,32
[29] Lu-ca 2,22
[30] Lu-ca 2,29-32
[31] Lu-ca 2,34-35
[32] x. Lu-ca 23,46
[33] x. Khải huyền 22,5
[34] Thánh vịnh 23,7
[35] Mát-thêu 5,16
[36] Vita consecrata, số 112
[37] x. Lu-ca 2,51
[38] Lu-ca 2,46
[39] Lu-ca 2,47
[40] Lu-ca 2,48
[41] Lu-ca 2,49
[42] x. Mác-cô 8,31
[43] Lu-ca 2,50
[44] Lu-ca 2,51
còn tiếp ...
