Phần 4: Kinh Mân Côi với thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II - Các Mầu Nhiệm Thương
- Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

- 29 thg 10
- 16 phút đọc
Scott L. Smith (biên tập)
Trích từ Tông thư Rosarium Virginis Mariae của Thánh Gio-an Phao-lô II
Các sách Tin Mừng nêu bật những mầu nhiệm Thương của Chúa Ki-tô. Ngay từ đầu, lòng đạo đức Ki-tô giáo, đặc biệt là việc đi Đàng Thánh Giá trong Mùa Chay, đã tập trung vào những khoảnh khắc khác nhau của cuộc Thương Khó, thể hiện rằng chính đây là tột đỉnh của mặc khải về tình yêu của Thiên Chúa và nguồn ơn cứu rỗi chúng ta. Kinh Mân Côi chọn một số khoảnh khắc từ cuộc Thương Khó, mời gọi các tín hữu chiêm ngắm trong lòng và sống lại các khoảnh khắc ấy. Loạt suy niệm bắt đầu với vườn Ghết-sê-ma-ni, nơi Chúa Ki-tô trải qua một khoảnh khắc đau khổ tột cùng khi đứng trước ý muốn của Chúa Cha, mà sự yếu đuối của xác thịt sẽ bị cám dỗ để nổi loạn. Ở đó, Chúa Giê-su đương đầu với mọi cám dỗ và đối mặt với mọi tội lỗi của nhân loại, để nói với Chúa Cha : “Xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha.”[1] Lời nói “Vâng” này của Chúa Ki-tô đảo ngược lời nói “Không” của tổ tiên chúng ta trong Vườn Địa Đàng. Và cái giá phải trả cho lòng trung thành với thánh ý Chúa Cha được thấy rõ trong những mầu nhiệm tiếp theo sau ; qua việc chịu đánh đòn, đội mão gai, vác Thánh Giá và chết trên Thánh Giá, Chúa đã chịu đau khổ tột cùng : Ecce homo ! Này là Người !
Nỗi đau khổ tột cùng này không chỉ mặc khải tình yêu của Thiên Chúa mà còn cho thấy ý nghĩa của chính con người.
Này là Người : ý nghĩa, nguồn gốc và sự viên mãn của con người được tìm thấy nơi Chúa Ki-tô, vị Thiên Chúa đã hạ mình vì tình yêu “cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”.[2] Các mầu nhiệm Thương giúp người tín hữu sống lại cái chết của Chúa Giê-su, đứng dưới chân Thánh Giá bên cạnh Đức Ma-ri-a, cùng với Mẹ bước vào chiều sâu tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người và kinh nghiệm tất cả năng lực trao ban sự sống của tình yêu đó.
Chương 1. Cơn hấp hối trong vườn cây dầu
Thánh Gio-an Phao-lô II đã có diễn từ sau đây vào thứ Tư, ngày 11 tháng 4 năm 1979 trong buổi Tiếp Kiến Chung
Việc loan báo Tin Mừng được thực hiện với sự trợ giúp của lời nói. Và ngay chỉ những lời Chúa Ki-tô nói trong cuộc Thương Khó của Người cũng có năng lực diễn tả lớn lao. Cũng có thể nói rằng đó là nơi gặp gỡ đặc biệt với mọi người ; là cơ hội và lý do để thể hiện sự liên đới mạnh mẽ. Chúng ta có thường trở lại với những điều các tác giả Tin Mừng ghi lại, đó là những lời cầu nguyện đầy cảm kích của Chúa Ki-tô trong vườn Cây Dầu ? “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này.”[3] Chẳng phải mọi người đều nói như vậy đó sao ? Chẳng phải mọi người đều cảm thấy như vậy trong đau khổ, trong gian truân, trước Thập Giá đó sao ? : “Xin cho con khỏi phải uống chén này ...” Câu này chứa đựng sự thật sâu xa của con người biết bao ! Chúa Ki-tô, trong tư cách một con người thật sự, cảm thấy dị ứng với đau khổ : “Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến”[4] và nói : “Xin cho con khỏi phải uống chén này ...” ; xin cho nó đừng xảy đến với con ! Cần phải chấp nhận tất cả sự diễn đạt của con người, toàn bộ sự thật của con người trong những lời này, để có thể kết hợp chúng với những lời của Chúa Ki-tô : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha !”[5] Mọi người, khi đứng trước đau khổ, đều đối mặt với một thách thức ... Phải chăng đây chỉ là một thách thức của số phận ? Chúa Ki-tô trả lời cho điều này, khi nói : “Xin vâng ý Cha.” Người không nói đến số phận, một “số phận mù quáng”. Người nói với Thiên Chúa, nói với Cha. Đôi khi câu trả lời này không đủ đối với chúng ta, vì nó không phải là lời cuối cùng, mà là lời đầu tiên. Chúng ta không thể hiểu được vườn Ghết-sê-ma-ni hay đồi Can-vê trừ khi đặt trong bối cảnh của toàn bộ biến cố Vượt Qua, của toàn bộ mầu nhiệm.
Trong những lời về cuộc Thương Khó của Chúa Ki-tô, có một cuộc gặp gỡ đặc biệt mạnh mẽ giữa “con người” và “thần linh”. Những lời trong vườn Ghết-sê-ma-ni đã cho thấy điều này. Về sau, Chúa Ki-tô sẽ chọn im lặng. Người sẽ nói đến bản án cho Giu-đa. Rồi Người nói với những người được Giu-đa đưa đến vườn Ghết-sê-ma-ni để bắt Người. Rồi, một lần nữa Người nói với ông Phê-rô. Trước Thượng Hội Đồng, Người không tự bào chữa cho mình, nhưng làm chứng. Và cũng vậy khi đứng trước tổng trấn Phi-la-tô. Thế nhưng khi đứng trước vua Hê-rô-đê, “Người không trả lời”.[6] Trong suốt cuộc tuyên án, những lời của ngôn sứ I-sai-a đã ứng nghiệm : “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca ; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng.”[7] Những lời cuối cùng của Người sẽ vọng xuống từ Thập Giá.
Chúng có thể được giải thích trong toàn thể bằng diễn biến của sự kiện, bằng sự tra tấn khủng khiếp, và đồng thời, thông qua chúng, mặc dù ngắn gọn và hàm súc, vẫn tỏ lộ tính “thần linh” và “cứu rỗi”. Chúng ta cảm nhận ý nghĩa “cứu rỗi” trong những lời Người nói với Đức Mẹ, với thánh Gio-an, với người trộm lành, cũng như những lời Người nói về những kẻ đóng đinh Người. Những lời cuối cùng Người nói với Chúa Cha thật dâng trào : âm vọng cuối cùng và đồng thời gần như là sự tiếp nối của lời cầu nguyện ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Chúa Ki-tô nói : “Lạy Thiên Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?”[8] nhắc lại lời Thánh vịnh.[9] Tại vườn Ghết-sê-ma-ni, Người đã nói : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này.”[10] Và giờ đây, từ trên Thập Giá, Người đã công khai xác nhận rằng “chén” vẫn chưa được cất đi, rằng Người phải uống cạn chén ấy. Đó là ý muốn của Chúa Cha. Thật vậy, câu nói “Thế là đã hoàn tất” [11]là một tiếng dội lại của lời cầu nguyện ở vườn Cây Dầu. Và rốt cuộc, không gì khác hơn là : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”[12]
Cơn hấp hối của Chúa Ki-tô. Trước hết là nỗi thống khổ tâm can trong vườn Cây Dầu. Sau đó là nỗi đau cả tâm can lẫn thể xác trên Thập Giá. Không ai diễn tả sâu sắc như Chúa Ki-tô về sự giày vò của con người trong cơn hấp hối, chỉ vì Người là Con Thiên Chúa ; bởi vì trong Người, những gì là “nhân loại” và những gì là “thần linh” đã tạo nên một sự kết hợp huyền nhiệm. Do đó, những lời của Chúa Ki-tô khổ nạn, rất thấm thía về tính con người, sẽ mãi mãi là sự mặc khải về “thần tính” vốn gắn chặt với nhân tính nơi Chúa Ki-tô, trong sự hợp nhất con người trọn vẹn. Có thể nói rằng : cái chết của vị ‘Người – Chúa’ là điều cần thiết, để chúng ta, những người thừa kế tội nguyên tổ, có thể hiểu được cái chết của con người là bi kịch như thế nào.
Chương 2. Bị đánh đòn trong dinh Philatô
Sau cuộc đánh đòn trong dinh, ông Phong-xi-ô Phi-la-tô đưa Chúa Giê-su đã bị đánh đòn mình mẩy đẫm máu ra trước đám đông, và nói rằng : “Ecce homo ! Này là Người !”
Thánh Gio-an Phao-lô II có diễn từ với “các Giáo sư Đại học của mọi Quốc gia” sau đây vào thứ Bảy, ngày 9 tháng 9 năm 2000
Quý vị không ngừng tìm hiểu về giá trị của nhân vị con người. Mỗi người trong quý vị có thể nói, giống như triết gia cổ đại : “Tôi đang tìm kiếm con người !” Trong số nhiều câu trả lời được đưa ra cho cuộc tìm hiểu nền tảng này, quý vị đã chấp nhận câu trả lời do chính Chúa Ki-tô, một câu trả lời bộc lộ từ những lời của Người, nhưng được nhìn thấy thậm chí trước khi toả sáng trên khuôn mặt Người. Ecce homo : Này là Người ![13] Khi cho đám đông điên cuồng thấy khuôn mặt bị đánh bầm dập của Chúa Ki-tô, ông Phi-la-tô không ý thức rằng, theo một nghĩa nào đó, ông sẽ thốt lên một lời mặc khải. Vô tình, ông chỉ ra cho thế giới thấy Đấng mà nơi Người, mọi con người có thể nhận ra nguồn gốc của mình, và nơi Người, mọi con người đều có thể hy vọng tìm thấy sự cứu rỗi. Redemptor hominis : Đấng Cứu Độ : đây là hình ảnh của Chúa Ki-tô mà, từ Thông điệp đầu tiên của mình, tôi đã tìm cách “hét vang” cho thế giới, và Năm Thánh này muốn nêu lại cho lòng trí mọi người.
Chương 3. Đội mão gai
Thánh Gio-an Phao-lô II có diễn từ sau đây trong buổi Kinh Truyền Tin vào Chúa nhật, ngày 26 tháng 11 năm 1978
Hôm nay là ngày lễ Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ. Trong khi suy nghĩ nên nói gì với anh chị em rất thân mến tụ họp cho buổi “Kinh Truyền Tin” hôm nay, tôi chợt thấy rằng trước hết phải làm âm vang những lời của Tin Mừng Gio-an ở đây – vâng, ngay tại nơi này, trước tiền đường của Đền Thờ Thánh Phê-rô, ngay giữa lòng thành phố Rô-ma.
Ông Phi-la-tô hỏi : “Ông có phải là vua dân Do-thái không ?” Đức Giê-su đáp : “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” Ông Phi-la-tô trả lời : “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” Đức Giê-su trả lời : “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.”[14]
Những lời này nhắc chúng ta nhớ các sự kiện trong quá khứ, diễn ra ở vùng ngoài rìa xa xôi của Đế quốc La-mã vĩ đại. Tuy nhiên, chúng không phải là không có ý nghĩa. Có lẽ ngày nay những vấn đề thời sự vẫn âm vang trong các lời đó. Trong cuộc đối thoại này, ít nhất từ một số quan điểm, có lẽ có thể tìm thấy những cuộc thảo luận tương tự đang diễn ra ngày nay.
Chúa Ki-tô trả lời câu hỏi của quan toà và cho thấy rằng lời tố cáo chống lại Người là vô căn cứ. Người không nhắm đến quyền lực thế tục. Ngay sau đó, Người sẽ bị đánh đòn và đội mão gai. Người sẽ bị chế giễu và sỉ nhục, với những lời : “Kính chào Vua dân Do-thái !”[15]
Nhưng Chúa Giê-su im lặng, như thể bằng sự im lặng của mình, Người mong muốn diễn đạt đến cùng điều Người đã trả lời ông Phi-la-tô. Nhưng đây vẫn chưa phải là câu trả lời đầy đủ. Và ông Phi-la-tô cảm thấy điều đó. Vì lý do này, ông hỏi lần thứ hai : “Vậy ông là vua sao ?”[16]
Một câu hỏi kỳ lạ, kỳ lạ sau tất cả những gì Chúa Ki-tô đã tuyên bố một cách chắc chắn như vậy. Nhưng ông Phi-la-tô cảm thấy rằng lời phủ nhận của người bị tố cáo không giải toả hết mọi thứ : trong sâu thẳm của lời phủ nhận này có ẩn giấu một khẳng định. Cái gì vậy ? Và ở đây Chúa Ki-tô giúp quan toà ông Phi-la-tô tìm ra điều đó : “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”[17]
Tất cả chúng ta phải suy gẫm kỹ về điều Chúa Ki-tô phủ nhận và điều mà Người khẳng định. Điều Chúa Giê-su khẳng định không thuộc về phiên toà từng diễn ra ấy ở vùng đất xa xôi của Đế quốc La-mã, mà luôn nằm ở trung tâm của đời sống chúng ta. Nó vẫn rất thời sự hôm nay. Những người ban hành luật pháp, những người cai trị các quốc gia, và những người làm quan toà đều phải suy nghĩ về khẳng định đó.
Mọi Ki-tô hữu, mọi người, những người là công dân, và vì thế thuộc về một cộng đồng chính trị, kinh tế, quốc gia và quốc tế nhất định nào đó, phải suy gẫm về khẳng định này. “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật.” Vua Ki-tô nói điều này trước toà án của vị quan toà là tổng trấn, trong khi chờ đợi bản án sẽ được đưa ra ngay sau đó. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta hãy lắng nghe lại những gì Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã nói : “Giáo Hội, vì vai trò và thẩm quyền của mình, không đồng nhất với bất kỳ cộng đồng chính trị nào, cũng không bị ràng buộc với bất kỳ hệ thống chính trị nào. Giáo Hội vừa là dấu chỉ vừa là sự bảo vệ cho chiều kích siêu việt của con người.”[18] Đây là cách Giáo Hội thời nay suy nghĩ và tuyên bố. Giáo Hội muốn trung thành với những gì Chúa Ki-tô đã nói. Đó là lý do hiện hữu của Giáo Hội.
Liên quan đến vấn đề này, chúng ta nghĩ đến những người anh em của chúng ta, những người bị xét xử và có lẽ bị kết án tử hình – nếu không phải tử hình về mặt thể xác, thì ít nhất là tử hình về tư cách công dân – bởi vì họ tuyên xưng đức tin của mình, vì họ trung thành với sự thật, vì họ bảo vệ công lý đích thực. Phải nhìn nhận rằng thật không may, những tình huống tương tự cũng không thiếu trong thế giới ngày nay. Vì thế, vào ngày lễ Chúa Ki-tô Vua này, cần phải nhấn mạnh rằng nhiều người đang chịu tình cảnh tương tự với Chúa Ki-tô, Đấng đã bị xét xử và kết án trước toà án Phi-la-tô. Chúng ta hãy cầu xin mỗi ngày cho Nước Chúa trị đến.
Chương 4. Vác thánh giá
Thánh Gio-an Phao-lô II đã có những lời suy niệm và cầu nguyện sau đây ở Chặng Đàng Thánh Giá thứ năm tại Colosseum vào thứ Sáu Tuần Thánh năm 2000
X. Chúng con kính lạy và ngợi khen Chúa Giê-su Ki-tô.
Đ. Vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà cứu chuộc thiên hạ.
Ông Si-môn thành Ky-rê-nêgiúp Chúa Giê-su vác Thánh Giá
Họ ép buộc ông Si-môn.[19] Những người lính La-mã đã làm như vậy vì sợ rằng Người Bị Kết Án sẽ không thể vác Thập Giá đến tận đồi Gôn-gô-tha do đã kiệt sức. Như thế họ sẽ không thể thi hành bản án đóng đinh.
Họ nhìn quanh tìm người giúp vác Thập Giá. Nhìn thấy ông Si-môn, họ ép buộc ông phải kê vai vác gánh nặng đó. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng ông Si-môn không muốn làm điều này và phản đối. Vác Thập Giá cùng với một người bị kết án có thể bị coi là hành động tổn hại đến phẩm giá của một người tự do. Mặc dù không muốn, ông Si-môn đã vác Thập Giá giúp Chúa Giê-su.
Trong một bài thánh ca Mùa Chay, chúng ta nghe những lời này : “Dưới sức nặng của Thập Giá, Chúa Giê-su chào đón người Ky-rê-nê.” Những lời này cho phép chúng ta nhận ra một sự thay đổi hoàn toàn về quan điểm : theo một nghĩa nào đó, vị Thiên Chúa bị kết án là người đã trao Thập Giá của mình “như một món quà”.
Chẳng phải chính Người đã nói “Ai không vác Thập Giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” đó sao ?[20] Ông Si-môn nhận được một món quà. Ông đã trở nên “xứng đáng” với nó. Điều mà đám đông có thể coi là sự tổn hại đến phẩm giá của ông, thì theo quan điểm cứu chuộc, đã mang lại cho ông một phẩm giá mới.
Theo một cách độc đáo, Con Thiên Chúa đã làm cho ông trở thành người chia sẻ công trình cứu rỗi của Người. Ông Si-môn có nhận thức được điều này không ? Thánh Mác-cô tác giả Tin Mừng nhận diện ông Si-môn xứ Ky-rê-nê là “cha của A-lê-xan-đê và Ru-phô”.[21] Nếu những người con trai của ông Si-môn xứ Ky-rê-nê được cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên biết đến, thì có thể tin rằng ông Si-môn cũng thế, trong khi vác Thập Giá, ông đã tin vào Chúa Ki-tô. Từ tình trạng bị ép buộc, ông đã tự do chấp nhận, như thể được đánh động sâu xa bởi những lời này : “Ai không vác Thập Giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.” Nhờ việc vác Thập Giá, ông Si-môn đã được đưa đến hiểu biết Tin Mừng về Thập Giá.
Kể từ đó, Tin Mừng này đã nói với nhiều, rất nhiều người Ky-rê-nê, là những người được kêu gọi vác Thập Giá với Chúa Giê-su trong suốt dòng lịch sử.
Lời cầu nguyện
Lạy Chúa Ki-tô, Chúa đã ban cho ông Si-môn thành Ky-rê-nê phẩm giá được vác Thánh Giá của Chúa. Xin cũng chào đón chúng con dưới sức nặng của Thánh Giá, xin chào đón mọi người nam nữ và ban cho mọi người ơn sẵn sàng phục vụ. Xin đừng để chúng con quay lưng lại với những người bị đè bẹp bởi Thập Giá của bệnh tật, cô đơn, đói khát hoặc bất công. Khi chúng con mang gánh nặng của nhau, xin giúp chúng con trở thành những chứng nhân cho Tin Mừng Thập Giá và là chứng nhân cho Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. A-men.
Mẹ Đứng Đó
Có ai không khóc, khi nhìn Mẹ yêu dấu của Chúa Ki-tô bị nhấn chìm trong những khổ đau sâu thẳm ?
Chương 5. Chúa Kitô chết trên thánh giá
Thánh Gio-an Phao-lô II suy niệm và cầu nguyện ở Chặng Đàng Thánh Giá thứ mười hai tại Colosseum vào thứ Sáu tuần Thánh năm 2000
X. Chúng con kính lạy và ngợi khen Chúa Giê-su Ki-tô.
Đ. Vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà cứu chuộc thiên hạ.
Chúa Giê-su chết trên Thánh Giá
“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”[22]
Ở cao trào của cuộc Thương Khó, Chúa Ki-tô không quên con người, đặc biệt những ai trực tiếp chịu trách nhiệm về nỗi đau khổ của Người. Chúa Giê-su biết rằng hơn bất cứ điều gì khác, con người cần tình yêu ; con người cần lòng thương xót đang đổ tràn trên thế giới vào chính khoảnh khắc này. “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”[23] Đây là cách Chúa Giê-su đáp lại lời cầu xin của phạm nhân treo bên hữu Người : “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !”[24] Đó là lời hứa về một đời sống mới. Đây là hoa trái đầu mùa của cuộc Thương Khó và cái Chết đang đến gần của Chúa Ki-tô. Đó là một lời hy vọng cho con người.
Đức Ma-ri-a đứng dưới chân Thánh Giá, và bên cạnh là người môn đệ, thánh Gio-an tác giả sách Tin Mừng. Chúa Giê-su nói : “Thưa bà, đây là con của bà !” và nói với người môn đệ : “Đây là mẹ của anh !”[25] “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.”[26] Đây là di sản của Chúa Giê-su để lại cho những người thân yêu nhất của Người. Di sản của Chúa dành cho Giáo Hội. Mong muốn của Chúa Giê-su khi Người chết, đó là tình yêu từ mẫu của Đức Ma-ri-a sẽ ôm trọn tất cả những ai mà Người hiến mạng sống mình cho họ, nghĩa là toàn thể nhân loại.
Ngay sau đó, Chúa Giê-su kêu lên : “Tôi khát.”[27] Lời này mô tả cơn thiêu đốt khủng khiếp toàn thân thể Người. Đây là lời duy nhất ám chỉ trực tiếp đến nỗi đau thể xác của Người. Rồi Chúa Giê-su nói thêm : “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?”[28] Những lời Thánh vịnh này là lời cầu nguyện của Người. Bất chấp âm giọng của nó, những lời này cho thấy chiều sâu sự kết hợp của Người với Chúa Cha.
Trong khoảnh khắc cuối cùng cuộc đời của Người trên trần gian, Chúa Giê-su nghĩ về Chúa Cha. Từ giây phút này trở đi, cuộc đối thoại sẽ chỉ diễn ra giữa Người Con hấp hối và Chúa Cha, Đấng chấp nhận hy lễ tình yêu của Người. Đến giờ thứ chín, Chúa Giê-su kêu lên : “Thế là đã hoàn tất !”[29] Giờ đây công trình cứu chuộc đã hoàn tất. Sứ mạng mà Người đến để đảm nhận trên trái đất đã đạt được mục tiêu của nó.
Phần còn lại thuộc về Chúa Cha : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”[30] Nói xong, Người trút hơi thở cuối cùng. “Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai ...”[31] “Nơi Cực Thánh” của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được mở ra vào lúc Vị Thượng Tế của Giao Ước Mới và Vĩnh Cửu bước vào.
Lời cầu nguyện
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, trong giây phút hấp hối, Chúa đã không thờ ơ với số phận của nhân loại, và với hơi thở cuối cùng, Chúa đã trao phó cho lòng thương xót của Chúa Cha những con người nam nữ ở mọi thời đại, với tất cả những yếu đuối và tội lỗi của họ. Xin đổ đầy Thánh Thần tình yêu của Chúa vào chúng con và các thế hệ tương lai, để sự thờ ơ của chúng con sẽ không làm cho những hoa trái cái chết của Chúa trở nên vô ích. Lạy Chúa Giê-su chịu đóng đinh, là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, vinh quang và danh dự là của Chúa đến muôn đời. A-men.
Mẹ Đứng Đó
Mẹ nhìn lên Người Con dịu hiền của mình, thấy Người bị treo chơ vơ, cho đến khi Người trút linh hồn.
[1] Lu-ca 22,42 và các đoạn tương tự
[2] Phi-líp-phê 2,8
[3] Mát-thêu 26,39
[4] Mát-thêu 26,37
[5] Mát-thêu 26,39
[6] Lu-ca 23,9
[7] I-sai-a 53,7
[8] Mát-thêu 27,46
[9] x. Thánh vịnh 21
[10] Mát-thêu 26,39
[11] Gio-an 19,30
[12] Lu-ca 23,46
[13] Gio-an 19,5
[14] Gio-an 18,33-36
[15] Gio-an 19,3
[16] Gio-an 18,37
[17] Nvt.
[18] Gaudium et Spes, số 76
[19] x. Mác-cô 15,21
[20] Mát-thêu 10,38
[21] Mác-cô 15,21
[22] Lu-ca 23,34
[23] Lu-ca 23,43
[24] Lu-ca 23,42
[25] Gio-an 19,26-27
[26] Gio-an 19,27
[27] Gio-an 19,28
[28] Mát-thêu 27,46 ; x. Thánh vịnh 22,2
[29] Gio-an 19,30
[30] Lu-ca 23,46
[31] Mát-thêu 27,51
còn tiếp ...
